Tổng hợp các chính sách mới lĩnh vực Hình sự có hiệu lực tháng 7/2026 theo quy định của pháp luật

Tầng 3, 70 Hoàng Diệu, Phường Xóm Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh

infotruongminhngoc@gmail.com

logo

Hotline 24/7 084 8008 568 0936941658

Tổng hợp các chính sách mới lĩnh vực Hình sự có hiệu lực tháng 7/2026 theo quy định của pháp luật
09/07/2026 03:53 PM 1024 Lượt xem

    Tháng 7/2026 đánh dấu mốc quan trọng với việc nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hình sự có hiệu lực thi hành. Trong đó, nổi bật là Luật Thi hành án hình sự 2025, Luật Tạm giam, tạm giữ và cấm đi khỏi nơi cư trú, cùng một số nghị định hướng dẫn thi hành.

    05 văn bản Luật lĩnh vực hình sự có hiệu lực từ ngày 1/7/2026? (Ảnh minh họa)

    Hãy cùng Luật Trường Minh Ngọc tìm hiểu về vấn đề này như sau:

    05 văn bản Luật lĩnh vực hình sự có hiệu lực từ ngày 1/7/2026?

    Kể từ ngày 01/7/2026, hệ thống pháp luật hình sự ghi nhận 05 đạo luật quan trọng chính thức được thi hành bao gồm:

    - Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025

    - Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025

    - Luật Dẫn độ 2025

    - Luật Thi hành án hình sự 2025

    - Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 202

    Chi tiết các nội dung và chính sách mới nổi bật

    (1) Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 (số 103/2025/QH15)

    Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự: Tại Điều 5 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 được thực hiện trên nguyên tắc như sau:

    + Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia;

    + Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

    + Bình đẳng và cùng có lợi;

    + Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

    + Thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại trong trường hợp giữa các bên chưa có điều ước quốc tế. Các nguyên tắc này vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam mở rộng hợp tác với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

    Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về hình sự: Tại Điều 7 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 quy định rõ:

    - Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tiếp nhận, xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài và việc gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại.

    - Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về hình sự.

    Mở rộng phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự: Tại Điều 9 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 quy định về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm:

    - Tống đạt, giao, gửi văn bản tố tụng;

    - Khám xét, thu giữ;

    - Tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản;

    - Tổ chức cho người ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ;

    - Tổ chức cho người có thẩm quyền ở nước yêu cầu sang nước được yêu cầu để có mặt trong quá trình thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự;

    - Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ;

    - Lấy lời khai trực tiếp, trực tuyến và các hình thức thu thập, cung cấp chứng cứ khác;

    - Chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự;

    - Trao đổi thông tin;

    - Các hình thức tương trợ khác.

    Miễn hợp pháp hóa lãnh sự hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự: Tại Điều 10 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025, đối với hồ sơ yêu cầu và kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu được ký, đóng dấu bởi người, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    Quy định xem xét yêu cầu liên quan đến hình phạt tử hình: Tại Điều 14 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025, quy định quy định các trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.

    Mặt khác, trong trường hợp Việt Nam yêu cầu nước ngoài không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị nước ngoài đưa ra cam kết bằng văn bản về nội dung này.

    (2) Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 (số 101/2025/QH15)

    Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù: Tại Điều 6 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

    - Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

    - Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế;

    - Tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù;

    - Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu của Việt Nam trong trường hợp tương tự. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu chuyển giao, Bộ Công an có cam kết bằng văn bản về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

    - Phù hợp với thực tiễn và nhu cầu hợp tác về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài;

    - Bộ Công an căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.

    Miễn hợp pháp hóa lãnh sự: Theo Điều 9 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, đối với hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu được ký, đóng dấu bởi người, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    Quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù: Tại Điều 12 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, quy định quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù như sau:

    - Việc quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải được thông báo trước bằng văn bản đến Bộ Công an để xử lý. Việc đồng ý hoặc từ chối quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    - Trường hợp được phép quá cảnh, nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù chịu trách nhiệm quản lý người đó trong thời gian quá cảnh Việt Nam và chịu mọi chi phí quá cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    - Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không và hạ cánh đột xuất trên lãnh thổ Việt Nam, người đang chấp hành án phạt tù có thể bị quản lý theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc quản lý người đang chấp hành án phạt tù và chi phí có liên quan được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    - Trường hợp Việt Nam đề nghị nước ngoài cho phép quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù thì Bộ Công an liên hệ với nước ngoài để thực hiện các thủ tục xin phép quá cảnh.

    (3) Luật Dẫn độ 2025 (số 100/2025/QH15)

    Bộ Công an là Cơ quan trung ương về dẫn độ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Tại Điều 6 Luật Dẫn độ năm 2025 quy định Bộ Công an là Cơ quan trung ương về dẫn độ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quy định vai trò, nhiệm vụ của Cơ quan trung ương về dẫn độ, trong đó có trách nhiệm lập yêu cầu dẫn độ. Theo đó, Bộ Công an có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu liên quan đến dẫn độ; hướng dẫn, lập, gửi và tiếp nhận hồ sơ yêu cầu dẫn độ; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ của Việt Nam và của nước ngoài; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện dẫn độ; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về dẫn độ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Áp dụng dẫn độ với người có hành vi phạm tội bị phạt tù từ 1 năm trở lên: Tại Điều 7 Luật Dẫn độ 2025 quy định về các trường hợp có thể bị dẫn độ bao gồm:

    - Người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà: Pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài quy định hình phạt tù có thời hạn từ 01 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình Người đã bị tòa án của nước yêu cầu dẫn độ xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người đó còn lại ít nhất 06 tháng.

    - Hành vi phạm tội của người được quy định tại khoản 1 Điều này không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.

    - Trường hợp nước ngoài yêu cầu dẫn độ liên quan đến người có nhiều hành vi phạm tội: Mỗi hành vi cấu thành một tội phạm theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài và có ít nhất một hành vi đáp ứng được các điều kiện quy định tại khoản 1 của Điều 7 Luật dẫn độ 2025 thì Việt Nam có thể đồng ý dẫn độ người đó. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đồng ý dẫn độ với các trường hợp tương tự.

    - Trường hợp hành vi phạm tội của người được quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Dẫn độ 2025 xảy ra ngoài lãnh thổ của Việt Nam thì việc dẫn độ người đó có thể được thực hiện nếu pháp luật Việt Nam quy định hành vi đó là hành vi phạm tội.

    Thông báo liên quan đến hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ: Tại Điều 14 Luật dẫn độ 2025 quy định trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng, thi hành hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ như sau:

    - Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan đưa ra một trong các thông báo bằng văn bản sau đây: Thông báo không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ nếu người bị yêu cầu dẫn độ thuộc trường hợp không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc không bị thi hành hình phạt tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự Thông báo không thi hành hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ không thuộc trường hợp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 sau khi có ý kiến của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    - Trường hợp Việt Nam yêu cầu nước ngoài không thi hành hình phạt tử hình đối với người bị yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an đề nghị nước ngoài cam kết bằng văn bản về nội dung này.

    - Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết Điều này.

    Cho phép giữ người đến 45 ngày trước khi dẫn độ: Tại khoản 1, khoản 2 Điều 33 Luật Dẫn độ 2025, số 100/2025/QH15 quy định về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ như sau:

    * Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ theo quy định tại điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam và nước đó cùng là thành viên:

     - Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định tại điều ước quốc tế đó. - Nếu văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan Công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 33. - Thời hạn giữ người và nội dung văn bản yêu cầu giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ được thực hiện theo quy định tại điều ước quốc tế đó.

    *Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ mà Việt Nam và nước đó không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về dẫn độ:

    - Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định tại khoản 3 Điều 33. - Trường hợp văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan Công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 33.

    - Thời hạn giữ người trong trường hợp khẩn cấp là 45 ngày kể từ ngày đưa vào cơ sở lưu trú.

    Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ: Tại Điều 5 Luật Dẫn độ 2025, số 100/2025/QH15 việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

    Tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

    + Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

    + Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về dẫn độ thì việc dẫn độ được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

    - Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu của Việt Nam trong trường hợp tương tự. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu dẫn độ, Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dẫn độ có cam kết bằng văn bản về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại; - Phù hợp thực tiễn và nhu cầu hợp tác về dẫn độ giữa Việt Nam và nước ngoài. - Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dẫn độ căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ. Trường hợp cần thiết, Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dẫn độ lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.

    Dẫn độ có điều kiện: Theo Điều 13 Luật Dẫn độ 2025, số 100/2025/QH15 quy định về việc dẫn độ có điều kiện như sau:

    - Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam phải đáp ứng điều kiện nhất định để đồng ý dẫn độ: Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể chấp nhận một phần hoặc toàn bộ điều kiện này trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc dẫn độ quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này

    - Trường hợp cần yêu cầu nước ngoài đáp ứng điều kiện nhất định để Việt Nam đồng ý dẫn độ: Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chấp nhận và cam kết thực hiện điều kiện này.

    (4) Luật Thi hành án hình sự 2025 (số 127/2025/QH15)

    Nguyên tắc thi hành án hình sự: Tại Điều 4 Luật Thi hành án hình sự 2025 bổ sung nguyên tắc: Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động thi hành án hình sự.

    Đồng thời, không còn quy định nguyên tắc: Thi hành án đối với người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội từng quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Thi hành án hình sự 2019.

    Giao thêm nhiệm vụ cho Công an cấp xã: Theo Luật Thi hành án hình sự 2025, Công an cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ thi hành án hình sự như:

    - Quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;

    - Quản lý, giám sát, giáo dục người bị phạt cải tạo không giam giữ;

    - Quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cấm cư trú về cư trú, người bị quản chế…

    Thu nhập thông tin sinh trắc học trong hoạt động thi hành án hình sự: Tại Điều 11, 12, 13, 14, 24 Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trại giam có nhiệm vụ tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt, ADN, giọng nói của người chấp hành hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, án treo và phạm nhân trong trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu.

    Phạm nhân được hiến mô, bộ phận cơ thể: Tại điểm b khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án hình sự 2025 thì phạm nhân có quyền được hiến mô, bộ phận cơ thể; được hưởng chế độ, chính sách theo quy định pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người.

    (5) Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (số 128/2025/QH15)

    Luật này điều chỉnh các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú. Đồng thời quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành các biện pháp này, cũng như quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Dịch vụ Luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp dân sự của Luật Trường Minh Ngọc

    >>> Xem thêm: Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

    >>> Xem thêm: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ trong tố tụng dân sự được áp dụng khi nào?

    Trên đây là những chia sẻ của Luật Trường Minh Ngọc về vấn đề “Tổng hợp các chính sách mới lĩnh vực Hình sự có hiệu lực tháng 7/2026 theo quy định của pháp luật”. Bài viết chỉ mang tính tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn để giải quyết một vụ việc cụ thể. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần được giải đáp, vui lòng liên hệ cho chúng tôi:

    Liên hệ qua Hotline:

    - Hotline 1: 093 694 1658 (zalo)

    - Hotline 2: 083 450 9168 (zalo)

    Liên hệ qua Facebook: Luật Trường Minh Ngọc - Luật sư của bạn

    Liên hệ trực tiếp tại văn phòng: Tầng 3, 68 – 70 Hoàng Diệu, Phường Xóm Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh

    Liên hệ qua email: infotruongminhngoc@gmail.com

    *Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: infotruongminhngoc@gmail.com

    Zalo
    Hotline