Bạo lực học đường từ lâu đã trở thành một vấn nạn nhức nhối tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Những hành vi tưởng chừng chỉ là xô xát, trêu chọc hay “đùa giỡn quá trớn” trong môi trường học đường lại có thể để lại hậu quả nghiêm trọng về thể chất, tinh thần cho người bị hại, thậm chí ảnh hưởng lâu dài đến nhân cách và tương lai của học sinh. Không ít vụ việc gây bức xúc dư luận đặt ra câu hỏi: bạo lực học đường chỉ bị nhắc nhở, kỷ luật nội bộ hay đã đến mức phải chịu trách nhiệm trước pháp luật? Bạo lực học đường thường được xử lý theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của vụ việc. Nhà trường cũng có thể kỷ luật học sinh gây ra bạo lực, nhưng nếu vụ việc gây ra hậu quả nghiêm trọng thì cần có sự can thiệp của các cơ quan chức năng. Trong bối cảnh đó, việc xác định khi nào hành vi bạo lực học đường bị xử lý hành chính, khi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự không chỉ có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa mà còn góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người học trong một môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
Hãy cùng Luật Trường Minh Ngọc tìm hiểu về vấn đề này như sau:
Cơ sở pháp lý
– Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
– Bộ luật Dân sự năm 2015;
– Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường;
– Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt khi vi phạm quy định về trật tự công cộng.
- Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT quy định về ban hành điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.
- Thông tư 08/TT/ năm 1988 quy định về hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh các trường phổ thông.
Thế nào là bạo lực học đường?
Căn cứ theo khoản 5 Điều 2 nghị định 80/2017/NĐ-CP ngày 17/07/2017 của Chính phủ quy định:
“ Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
5. Bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập.”
- Hiện nay nó có khuynh hướng ngày càng gia tăng, diễn ra ở nhiều nơi, trở thành một vấn nạn của xã hội. Nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Cụ thể như:
+ Hình vi đánh nhau giữa học sinh với học sinh với nhau, bạo lực học đường thể hiện qua hành vi dùng vũ lực đe dọa, mang vũ khí đến trường, lập các nhóm đánh nhau, đánh hội đồng, tra tấn, hành hạ... nhằm tác động vật lý lên cơ thể, khiến họ rơi vào tình trạng không thể chống đỡ, gây ra những tổn hại về sức khỏe, tính mạng cho người bị hại.
+ Bạo lực tinh thần: dùng từ ngữ, lời nói xúc phạm, lăng mạ, xỉ nhục, đay nghiến, chà đạp nhân phẩm, làm tổn thương về mặt tinh thần, đẩy họ vào chiều hướng suy nghĩ tiêu cực, bất an, sợ hãi.
+ Bạo lực tình dục: là hành vi quấy rối tình dục, hiếp dâm... mà đối tượng gánh chịu là học sinh, sinh viên. Đây là hành vi ngày càng diễn ra phổ biến và có dấu hiệu gia tăng. Theo đó, học sinh nữ bị xâm hại tình dục tại trường. Đây là một trong những hình thức xấu xa và đáng sợ nhất của bạo lực học đường.
+ Các hành vi khác,…
Hậu quả của bạo lực học đường
Từ sự ảnh hưởng về tâm lí, các nghiên cứu cho rằng, khi là nạn nhân của bạo lực, thường có sự ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần và sức khỏe tâm thần. Bị ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống trước mắt cũng như lâu dài.
- Về biểu hiện tâm lí, sẽ xuất hiện các biểu hiện như khóc, rối loạn tâm thần, có suy nghĩ tiêu cực, không muốn sống, có ý nghĩ tự sát hoặc tự làm tổn thương bản thân.
- Về thể chất, hành vi bạo lực có thể ảnh hưởng ngay lập tức tới sức khoẻ thể chất của nạn nhân bị bạo lực học đường. Bị thương tích trên cơ thể, vụ việc nghiêm trọng có thể dẫn đến nạn nhân có nguy cơ tàn phế và mất mạng.
Người thực hiện hành vi bạo lực học đường bị xử lý vi phạm bạo lực học đường “kịch khung” như thế nào?
* Về xử phạt kỷ luật nội bộ tại Nhà trường
Căn cứ Điều 37 Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT, quy định những hành vi học sinh không được làm khi tham gia học tập tại trường bao gồm: “Đánh nhau, gây rối trật tự, an ninh trong nhà trường và nơi công cộng”.
“ Tiểu mục 5 Mục III Thông tư số 08/TT năm 1988, mức xử phạt dành cho hành vi bạo lực học đường cụ thể như sau:
5. Đuổi học 1 năm:
[...] Mắc khuyết điểm sai phạm rất nghiêm trọng, tuy chỉ là lần đầu, song hành động sai phạm này là có ý thức và chủ động (không phải bị lôi kéo, a tòng), gây nên những tác hại rất lớn, rất nguy hiểm đến tài sản của xã hội và tính mạng của con người như: tham gia các tổ chức trộm cắp, trấn lột, trụy lạc, phản động,… dùng vũ khí (dao găm, lưỡi lê, súng lục, lựu đạn, …) đánh nhau có tổ chức, gây thương tích cho người khác, can án ngoài nhà trường bị công an bắt giữ hoặc mắc những khuyết điểm sai phạm khác mà tính chất và mức độ tác hại tương đương.”
Như vậy, bạo lực học đường là hành vi bị nghiêm cấm, học sinh không được thực hiện. Trường hợp học sinh cố tình gây ra các hành vi bạo lực học đường sẽ bị Nhà trường nơi học sinh đang học tập xử lý kỷ luật với hình thức đuổi học 1 năm.
* Xử phạt vi phạm hành chính
Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 đã quy định, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý.
“ Điều 5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính
1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.”
Riêng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có hành vi vi phạm hành chính sẽ áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo theo quy định tại điều 22 Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012.
“Điều 22. Cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản”
Đối với hành vi đánh bạn khi chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định đã nêu ở trên sẽ bị xử lý theo quy định tại Luật xử phạt vi phạm hành chính và Nghị định vi phạm hành chính theo số 167/2013/NĐ-CP, cụ thể tại điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt khi vi phạm quy định về trật tự công cộng như sau:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; …
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;
…
c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;
…
e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;
…”
Như vậy, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt tiền không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên. Nếu không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay.có thể xác định học sinh khi đánh nhau gây thương tích có thể bị xử phạt với các mức sau:
+ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng: Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;
+ Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng: Lôi kéo người khác đánh nhau hoặc xâm hại đến sức khỏe của người khác.
Ngoài ra, trường hợp người thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm rất nghiệm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã đủ 12 tuổi nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì tùy trường hợp có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo điều 89; hoặc đưa vào trường giáo dưỡng theo điều 91 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
* Về bồi thường thiệt hại dân sự
Bên cạnh xử lý vi phạm hành chính, hành vi bạo lực học đường cũng xâm phạm tới sức khỏe, danh dự, nhân phẩm nên có thể phải bồi thường thiệt hại dân sự do xâm phạm sức khỏe. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Thiệt hại khác do luật quy định. Việc đánh đập này nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của trẻ khác thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm.
+ Đối với học sinh dưới 15 tuổi khi đánh nhau có thiệt hại xảy ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về nhà trường nếu trong thời gian trường học trực tiếp quản lý; ngược lại nếu nhà trường chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ hoặc người giám hộ sẽ phải bồi thường theo quy định tại điều 599 Bộ luật Dân sự 2015.
+ Từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình theo quy định tại Điều 586 Bộ luật dân sự 2015.
* Về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi bạo lực học đường
Theo khoản 2, Điều 12 bộ luật Hình sự hiện hành quy định như sau:
"Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng".
Trong đó, "tội phạm rất nghiêm trọng" là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội danh này là từ trên 7 năm đến 15 năm tù.
Đối với hành vi bao lực học đường có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi Điều 1 Luật sử đổi Bộ luật Hình sự 2017. Ngoài ra, bạo lực học đường thường đi kèm với các hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự người khác, nên trong một số trường hợp còn có thể bị xem xét truy cứu thêm về tội làm nhục người khác. Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
-> Như vậy, hành vi bạo lực học đường có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu người thực hiện bạo lực gây thương tích cho nạn nhân, thì hành vi này có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích. Việc truy cứu được đặt ra khi tỷ lệ thương tích từ 11% trở lên, hoặc dưới 11% nhưng thuộc các tình tiết tăng nặng như sử dụng hung khí, có tính chất côn đồ, phạm tội với người dưới 16 tuổi, thầy cô giáo, có tổ chức,…
-> Trong nhiều trường hợp, bạo lực học đường còn đi kèm hành vi chửi bới, lăng mạ hoặc làm nhục nạn nhân; khi đó người có hành vi có thể bị xử lý về tội làm nhục người khác với mức phạt từ cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù. Tùy mức độ thương tích, số lượng nạn nhân và hậu quả gây ra, người thực hiện bạo lực học đường có thể phải chịu các mức hình phạt khác nhau, từ xử phạt nhẹ cho đến phạt tù nhiều năm, thậm chí tù chung thân nếu hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Dịch vụ Luật sư hình sự của Trường Minh Ngọc
>>> Xem thêm: "HÀNH VI XÚI GIỤC NGƯỜI KHÁC TỰ SÁT CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ HAY KHÔNG?"
Trên đây là những chia sẻ của Luật Trường Minh Ngọc về vấn đề “KHI NÀO BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở ĐỘ TUỔI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ?”. Bài viết chỉ mang tính tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn để giải quyết một vụ việc cụ thể. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần được giải đáp, vui lòng liên hệ cho chúng tôi:
Liên hệ qua Hotline:
- Hotline 1: 093 694 1658 (zalo)
- Hotline 2: 0939 593 486 (zalo)
Liên hệ qua Facebook: Luật Trường Minh Ngọc - Luật sư của bạn
Liên hệ trực tiếp tại văn phòng: Tầng 3, 68 – 70 Hoàng Diệu, Phường 13, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
Liên hệ qua email: infotruongminhngoc@gmail.com
*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: infotruongminhngoc@gmail.com